Table of Contents

  • Khi các hành động quốc tế chống biến đổi khí hậu được tăng cường và các chuỗi giá trị toàn cầu được định hình lại, các chính sách về năng lượng sạch hiệu quả sẽ ngày càng trở thành một nguồn lợi thế cạnh tranh. Khi đó, Việt Nam, trung tâm sản xuất lớn của Châu Á và là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất Đông Nam Á, phải có hành động nhất quán với những xu hướng này để duy trì vị thế là điểm đến hàng đầu cho đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam cần huy động nguồn đầu tư mạnh mẽ hơn nữa cho cơ sở hạ tầng năng lượng sạch, các chiến lược phát triển ngành cho thấy công suất phát điện sẽ tăng thêm gấp ba lần vào năm 2040, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của hoạt động sản xuất điện từ nguồn năng lượng gió và mặt trời. Nền kinh tế Việt Nam vẫn sử dụng nhiều năng lượng, với nhiều tiềm năng tăng hiệu quả quản lý phía nhu cầu. Quy mô đầu tư vượt quá khả năng tài chính công, do đó việc thiết lập một khuôn khổ khuyến khích mạnh mẽ nhằm thu hút vốn đầu tư tư nhân là việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết để nắm bắt lợi ích kinh tế của quá trình chuyển dịch năng lượng sạch.

  • Báo cáo Đánh giá chính sách Đầu tư và Tài chính cho Năng lượng Sạch tại Việt Nam là một trong những kết quả chính của Chương trình Huy động Đầu tư và Tài chính cho Năng lượng sạch (CEFIM) của OECD. Chương trình CEFIM nhằm hỗ trợ chính phủ các nước đang phát triển tại khu vực phía Nam và Đông Nam Á cũng như Mỹ Latinh khai thác nguồn tài chính và đầu tư vào phát triển năng lượng tái tạo và chương trình hiệu quả năng lượng (“năng lượng sạch”).

  • Chương này xem xét các xu hướng chính liên quan đến đầu tư và tài chính cho năng lượng sạch ở Việt Nam, đồng thời cung cấp một cái nhìn tổng quan bao trùm về các hoạt động chính trong phát triển kinh tế vĩ mô, đầu tư và xã hội ở Việt Nam trong những thập kỷ gần đây. Chương này cũng phân tích các xu hướng chính về nhu cầu năng lượng và hiệu quả sử dụng năng lượng, cũng như trong ngành điện, nêu bật tiến trình thực hiện các mục tiêu năng lượng sạch và khí hậu, đồng thời cung cấp một cái nhìn tổng thể về thị trường năng lượng sạch của Việt Nam, có xem xét các xu hướng gần đây về chi phí của các công nghệ năng lượng sạch, cũng như nguồn tài chính và đầu tư.

  • Chương này xem xét về quản trị tài chính, đầu tư cho năng lượng sạch và quy hoạch điện ở Việt Nam, đưa ra cái nhìn tổng quan về khung thể chế của quốc gia đối với năng lượng sạch và cấu trúc thị trường điện, đồng thời xác định các khía cạnh cần cải thiện trong quá trình phối hợp giữa các tổ chức, ở tất cả các cấp chính quyền, nhằm đảm bảo các mục tiêu và chính sách đạt tính hiệu quả, nhất quán. Chương này cũng nêu bật tiến trình và cơ hội để cải thiện các mục tiêu, chiến lược liên quan tới tài chính và đầu tư cho năng lượng sạch của quốc gia và cơ chế quy hoạch điện nhằm gửi những tín hiệu mang tính đáng tin cậy, đầy tham vọng và dài hạn đến các nhà đầu tư.

  • Chương này xem xét các chính sách và quy định về năng lượng sạch ở Việt Nam, đồng thời phân tích môi trường chính sách cho các chương trình năng lượng sạch đang phát triển cũng như cách thức hình thành quy định đã và đang định hình bối cảnh thị trường đầu tư năng lượng sạch như thế nào. Nội dung chương cũng đề cập tới việc xem xét vai trò của quá trình mở rộng các quy định về tiêu chuẩn thực hành tiết kiệm và dán nhãn năng lượng, nghĩa vụ quản lý năng lượng và các điều kiện quy định đối với các công ty dịch vụ năng lượng. Ngoài ra chương này cũng xem xét tác động của luật định đối với sản xuất điện từ nguồn năng lượng tái tạo và xác định các cơ hội để phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất.

  • Chương này xem xét các cơ chế đầu tư và cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh phát triển năng lượng sạch, đồng thời tìm hiểu những nỗ lực của quốc gia trong việc tạo sân chơi công bằng giữa các doanh nghiệp nhà nước ngành điện và các đơn vị sản xuất điện độc lập, cũng như tạo ra một quy trình đấu thầu năng lượng tái tạo công bằng, hiệu quả và minh bạch. Ở chương này, tác giả đã đánh giá cơ chế đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và các lĩnh vực khác để cải thiện khuôn khổ đầu tư năng lượng sạch, bao gồm cả cách thức tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận quỹ đất.

  • Chương này phân tích việc sử dụng các biện pháp khuyến khích hướng đến triển khai chương trình hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo, đồng thời cung cấp những thông tin sâu về các thông lệ tốt ở các quốc gia khác. Nội dung của chương nêu bật các biện pháp chính đã được chính phủ triển khai để cải thiện môi trường đầu tư cho các dự án năng lượng sạch, cũng như các lĩnh vực chưa được khai thác để thu hút đầu tư hơn nữa. Đồng thời, chương này cũng xem xét vai trò của hoạt động đấu thầu công khai đối với các dịch vụ tiết kiệm năng lượng và nguồn cung năng lượng tái tạo của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ thêm cho sự phát triển thị trường năng lượng sạch.

  • Chương này xem xét hiện trạng và các yêu cầu trong tương lai về tài chính cho năng lượng sạch ở Việt Nam, trong đó đánh giá hiện trạng của thị trường tài chính và nhấn mạnh tính cần thiết phải củng cố thị trường vốn. Nội dung chương nêu bật các quy định về thị trường tài chính, bao gồm vai trò của các chính sách tài chính bền vững và các công cụ tài chính xanh trong quá trình huy động tài chính cho các dự án năng lượng sạch. Chương này cũng xem xét vai trò của tài chính phát triển trong việc huy động vốn tư nhân và các cơ hội đổi mới thể chế để thúc đẩy nguồn tài chính và đầu tư từ khu vực tư nhân.

  • Chương này xem xét các vấn đề xuyên suốt có thể cải thiện khuôn khổ tài chính và đầu tư cho năng lượng sạch của Việt Nam, trong đó đánh giá những nỗ lực cải thiện khả năng tích hợp lưới điện trong khu vực nhằm tạo điều kiện thúc đẩy mở rộng nguồn năng lượng tái tạo, cũng như tăng cường đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển năng lượng sạch, từ đó giúp giảm chi phí của công nghệ năng lượng sạch và hỗ trợ phát triển năng lượng sạch trong nước. Chương này cũng trình bày các chương trình giáo dục và đào tạo cần thiết để phát triển các kỹ năng về tài chính và đầu tư cho năng lượng sạch cùng các nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực năng lượng sạch.